Có lẽ hiếm có câu chuyện tình nào được đề cập đến nhiều trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như chuyện tình Mỵ Châu (con của Thục Phán An Dương Vương) và Trọng Thuỷ (con của Triệu Đà). Trong câu chuyện nhuốm màu bi thương này tồn tại sự có mặt của một nhân vật mà những phát minh của ông đã và đang là đề tài khiến giới khoa học phải dày công nghiên cứu. Ông chính là Cao Lỗ - người anh hùng sáng tạo văn hóa, là biểu tượng của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước, dựng đô.

Đề Thờ An Dươn Vương - Khu di tích Cổ Loa
TỪ XÂY THÀNH….
Cao Lỗ (chưa rõ năm sinh, mất năm 179 trước công nguyên), là một tướng tài của Thục phán An Dương Vương, quê quán xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc ninh. Ông là người khuyên An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô. Về thành Cổ Loa, theo truyền thuyết gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện tại thành gồm có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm vào khoảng 2 km 2. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy dốc thẳng đứng, mặt trong luỹ thoải để ngoài đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Bao quanh mỗi vòng thành đều có hào nước, vòng hào thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Theo các nhà khoa học, thành Cổ Loa là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”. Chính nhờ cấu trúc kiên cố như vậy nên bao nhiêu lần quân của Triệu Đà đánh chiếm Cổ Loa là bấy nhiêu lần đại bại. …
… ĐẾN CHẾ TẠO NỎ THẦN
Những cuộc khai quật ở Cổ Loa, khởi đầu tại di chỉ khảo cổ Cầu Vực, phía nam kinh thành Cổ Loa đã hé lộ nhiều thông tin quý giá về chiếc nỏ thần linh nghiệm (hay còn gọi là nỏ Liên Châu) mà Thục Phán An Dương Vương thường dùng, đánh bại quân thù. Theo sách “Lĩnh nam chích quái”, sau khi giúp An Dương Vương xây Loa thành, rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói “nhờ ơn thần, thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt của mình đưa cho nhà vua và nói “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”.
Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy. Theo truyền thuyết chiếc nỏ này “bắn một phát chết một vạn, bắn ba phát chết ba vạn”. Mặc dù sự tích rùa vàng cho vuốt là chi tiết hư cấu được thần thoại hoá nhưng những cuộc khai quật gần đây đã chứng minh nỏ Liên Châu là hoàn toàn có thật. Cuộc khai quật đầu tiên năm 1959 tại Cầu Vực đã phát lộ một kho mũi tên đồng chưa tra cán, số lượng lên tới hàng vạn chiếc, tổng trọng lượng là 93kg. Số lượng mũi tên trên được chia ra các kiểu dáng khác nhau khá ổn định với trình độ tinh xảo. Đến cuộc khai quật tại Đền Thượng năm 2005, sau tiếp là các cuộc khai quật năm 2006, 2007 thì các nhà khảo cổ còn phát hiện di tích lò đúc mũi tên đồng cùng các khuôn đúc mũi tên 3 cạnh, đưa ra những minh chứng bằng hiện vật và luận cứ khoa học xác đáng về khí tài trang bị của “quân đội quốc gia” Âu Lạc.

Đình thờ Cao Lỗ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên
Theo các nhà nghiên cứu, mũi tên ba cạnh phù hợp với dạng bắn bằng nỏ, là một vũ khí lạnh tầm xa, mang tính đặc thù của cư dân Việt cổ. Từ đây, cây nỏ linh thiêng với uy lực “cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần” (theo “Lĩnh nam chích quái”) đã chứng minh được sự tồn tại của nó trong lịch sử dựng nước của dân tộc ta dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Chiếc nỏ thần cùng sự tích Loa thành không còn là câu chuyện đậm màu truyền thuyết mà đang dần “đi ra từ huyền thoại”.
Đến với Cổ Loa hôm nay, du khách có thể “sờ” thấy hệ thống vũ khí, được xem tận mắt dấu vết của lò đúc, những phần còn lại của khuôn đúc, những mũi tên đồng ba cạnh đặc trưng Cổ Loa đã từng nhiều lần gây kinh hoàng cho quân xâm lược. Nhiều hội thảo khoa học về tướng quân Cao Lỗ cùng di tích Cổ Loa và chiếc nỏ thần đã được tổ chức. Những luận cứ khoa học cùng hiện vật tìm thấy qua những cuộc khai quật đang dần làm sáng tỏ một giai đoạn lịch sử với nghệ thuật quân sự tài tình của người Việt ta.
Với tấm lòng tôn kính của người đời sau dành cho tướng quân Cao Lỗ, nhà sáng chế chiếc nỏ liên châu thần kì, nhiều địa phương trên cả nước đã lập đền thờ tưởng nhớ ông như đình thờ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên và tại phường Quảng An quận Tây Hồ, Hà Nội. Một số địa phương khác cũng có đền thờ Cao Lỗ như ở Bắc ninh, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh… Tại kì họp ngày 5 tháng 8 năm 2005, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định lấy tên ông để đặt tên cho một con đường ở trung tâm huyện Đông Anh.
Lan Phương (Hà Nội TV)
“Tôi kể ngày xưa nàng Mỵ ChâuTheo truyền thuyết năm 183 trước công nguyên, Triệu Đà xưng là nam Việt Vũ đế, chính thức khẳng định vị thế ngang bằng vua Hán. Triệu Đà từng nhiều lần đem quân sang xâm lược Âu Lạc, nhưng quân của Triệu Đà gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân dân Âu Lạc và liên tục thất bại bởi thứ vũ khí mệnh danh là nỏ thần. Chính vì thế, sau nhiều lần tấn công bằng quân sự đều chuốc lấy đại bại, Triệu Đà quyết ịnh chọn phương pháp giả vờ cầu hòa, thông hiếu và đưa con trai lớn sang cầu hôn với con gái An Dương Vương với mục đích điều tra tình hình phòng ngự, tổ chức quân đội trong thành và lấy cắp bí mật chế tạo, cách sử dụng của nỏ thần - vũ khí đặc biệt của Âu Lạc. Đây là lí do chính dẫn đến sự thất thủ của Thục Phán An Dương Vương và sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc sau khoảng thời gian 30 năm hưng thịnh.
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”
(Tố Hữu)

Đề Thờ An Dươn Vương - Khu di tích Cổ Loa
TỪ XÂY THÀNH….
Cao Lỗ (chưa rõ năm sinh, mất năm 179 trước công nguyên), là một tướng tài của Thục phán An Dương Vương, quê quán xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc ninh. Ông là người khuyên An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô. Về thành Cổ Loa, theo truyền thuyết gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện tại thành gồm có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm vào khoảng 2 km 2. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy dốc thẳng đứng, mặt trong luỹ thoải để ngoài đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Bao quanh mỗi vòng thành đều có hào nước, vòng hào thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Theo các nhà khoa học, thành Cổ Loa là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”. Chính nhờ cấu trúc kiên cố như vậy nên bao nhiêu lần quân của Triệu Đà đánh chiếm Cổ Loa là bấy nhiêu lần đại bại. …
… ĐẾN CHẾ TẠO NỎ THẦN
Những cuộc khai quật ở Cổ Loa, khởi đầu tại di chỉ khảo cổ Cầu Vực, phía nam kinh thành Cổ Loa đã hé lộ nhiều thông tin quý giá về chiếc nỏ thần linh nghiệm (hay còn gọi là nỏ Liên Châu) mà Thục Phán An Dương Vương thường dùng, đánh bại quân thù. Theo sách “Lĩnh nam chích quái”, sau khi giúp An Dương Vương xây Loa thành, rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói “nhờ ơn thần, thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt của mình đưa cho nhà vua và nói “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”.
Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy. Theo truyền thuyết chiếc nỏ này “bắn một phát chết một vạn, bắn ba phát chết ba vạn”. Mặc dù sự tích rùa vàng cho vuốt là chi tiết hư cấu được thần thoại hoá nhưng những cuộc khai quật gần đây đã chứng minh nỏ Liên Châu là hoàn toàn có thật. Cuộc khai quật đầu tiên năm 1959 tại Cầu Vực đã phát lộ một kho mũi tên đồng chưa tra cán, số lượng lên tới hàng vạn chiếc, tổng trọng lượng là 93kg. Số lượng mũi tên trên được chia ra các kiểu dáng khác nhau khá ổn định với trình độ tinh xảo. Đến cuộc khai quật tại Đền Thượng năm 2005, sau tiếp là các cuộc khai quật năm 2006, 2007 thì các nhà khảo cổ còn phát hiện di tích lò đúc mũi tên đồng cùng các khuôn đúc mũi tên 3 cạnh, đưa ra những minh chứng bằng hiện vật và luận cứ khoa học xác đáng về khí tài trang bị của “quân đội quốc gia” Âu Lạc.

Đình thờ Cao Lỗ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên
Theo các nhà nghiên cứu, mũi tên ba cạnh phù hợp với dạng bắn bằng nỏ, là một vũ khí lạnh tầm xa, mang tính đặc thù của cư dân Việt cổ. Từ đây, cây nỏ linh thiêng với uy lực “cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần” (theo “Lĩnh nam chích quái”) đã chứng minh được sự tồn tại của nó trong lịch sử dựng nước của dân tộc ta dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Chiếc nỏ thần cùng sự tích Loa thành không còn là câu chuyện đậm màu truyền thuyết mà đang dần “đi ra từ huyền thoại”.
Đến với Cổ Loa hôm nay, du khách có thể “sờ” thấy hệ thống vũ khí, được xem tận mắt dấu vết của lò đúc, những phần còn lại của khuôn đúc, những mũi tên đồng ba cạnh đặc trưng Cổ Loa đã từng nhiều lần gây kinh hoàng cho quân xâm lược. Nhiều hội thảo khoa học về tướng quân Cao Lỗ cùng di tích Cổ Loa và chiếc nỏ thần đã được tổ chức. Những luận cứ khoa học cùng hiện vật tìm thấy qua những cuộc khai quật đang dần làm sáng tỏ một giai đoạn lịch sử với nghệ thuật quân sự tài tình của người Việt ta.
Với tấm lòng tôn kính của người đời sau dành cho tướng quân Cao Lỗ, nhà sáng chế chiếc nỏ liên châu thần kì, nhiều địa phương trên cả nước đã lập đền thờ tưởng nhớ ông như đình thờ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên và tại phường Quảng An quận Tây Hồ, Hà Nội. Một số địa phương khác cũng có đền thờ Cao Lỗ như ở Bắc ninh, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh… Tại kì họp ngày 5 tháng 8 năm 2005, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định lấy tên ông để đặt tên cho một con đường ở trung tâm huyện Đông Anh.
Lan Phương (Hà Nội TV)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét