Đường ốc quanh quanh tới Cổ thànhCây đa thiên cổ dáng còn thanhHồng hồng mũ ngọc. Người đâu vắngLạnh lạnh gươm thần. Đá vẫn xanhKẻ Việt người Tần khôn vẹn nghĩaKhối tình chữ hiếu khó toàn danhÔi! Hồn ngọc tĩnh giờ lai lángLàm khách đang yêu bước chẳng đành.
Vị trí địa lý Thành Cổ Loa.
Lần thứ nhất Hà Nội (hay nói chính xác hơn là vùng ven Hà Nội) trở thành kinh đô là khi Thục An Dương Vương thống nhất hai tộc Âu Việt và Lạc Việt trở thành vua Việt cổ cho xây dựng Loa thành tạo nên kinh đô Cổ Loa của nước Âu Lạc Đánh dấu một bước phát...
Di tích Thành Cổ Loa và người sáng chế nỏ thần.
Có lẽ hiếm có câu chuyện tình nào được đề cập đến nhiều trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như chuyện tình Mỵ Châu (con của Thục Phán An Dương Vương) và Trọng Thuỷ (con của Triệu Đà). Trong câu chuyện nhuốm màu bi thương...
Truyện Cổ Tích : Sự Tích Thành Cổ Loa
Khi đã chiếm được đất Văn Lang, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê. Khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi đất rắn như đá. Ðám đông người hì hục đào đất, khuân đất hết ngày nọ sang ngày kia, tòa thành cao dần...
Truyền thuyết và hiện tại thành Cổ Loa
Nhắc đến Cổ Loa, người ta nghĩ ngay đến truyền thuyết về An Dương Vương được thần Kim Quy bày cho cách xây thành, về chiếc lẫy nỏ thần làm từ móng chân rùa thần và mối tình bi thương Mỵ Châu – Trọng Thủy..
Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015
Truyền thuyết và hiện tại thành Cổ Loa
Truyện Cổ Tích : Sự Tích Thành Cổ Loa
Khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi đất rắn như đá. Ðám đông người hì hục đào đất, khuân đất hết ngày nọ sang ngày kia, tòa thành cao dần. An Dương Vương cùng đoàn tùy tùng đến xem rất lấy làm hài lòng, cho là một tòa thành có thể đứng vững muôn đời, sấm sét không lay chuyển, mưa bão không làm sạt được, và quân giặc cũng không thể phá nổi.
Xem Video
Nhưng một đêm cả bức tường thành quanh co đều đổ sập xuống như đất bằng. Vua An Dương Vương đến xem rất lấy làm tức giận. Ngài hỏi dò dân chúng gần đó, họ kể lại: Ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập ở các khắp ngã kéo đến với những tiếng xì xào có thể là ma quỉ. Người đâu mà lại đông đến thế ! Họ sợ quá nên không dám nhìn ra. Rồi họ lại nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.
An Dương Vương sai các tướng lãnh đốc thúc đắp lại thành cho kỳ được. Ðám người hăng hái đắp lại không ngừng. Tường thành mỗi ngày một cao dần và lại cao như tường thành cũ. Nhưng rồi một đêm cả dãy tường thành lại sập xuống như đất bằng. An Dương Vương sai người đi hỏi dân chúng ở gần đó thì họ lại nói như trước. Ban đêm họ cũng nghe thấy những bước chân rầm rập như thiên binh vạn mã trẩy qua rồi lại những tiềng huỳnh huỵch tiếp đến những tiếng ầm ầm như sấm động.
An Dương Vương lại xem chỗ địa thành để cầu trời phù hộ mình đắp cho xong tòa thành. Vua đi vòng quanh chân tường vừa đi vừa suy nghĩ. Ðột nhiên vua thấy một ông già râu tóc bạc từ phía xa đi lại. Ðến gần An Dương Vương ông tự xưng mình là thổ thần của vùng đất này, nói với vua rằng:
- Nhà vua đừng lo, sáng mai nhà vua ra đợi ở bờ sông sẽ có sứ giả Thanh Giang đến giúp nhà vua đắp thành.
Nói xong ông già biến mất.
Hôm sau mới tờ mờ sáng, An Dương Vương đã ra tận bờ sông để đợi Giang sứ. Vừa bắt đầu tan sương thì có một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt sông từ phía Ðông bơi vào bờ đến gần nhà vua, rùa tự xưng mình là thần Kim Quy sứ giả của vua Thủy Tề. An Dương Vương sai đặt Giang sứ lên một chiếc mâm vàng và khiêng vào cung.
Vua hỏi kế đắp thành, thần Kim Quy bảo rằng:
- ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh có phép biến hoá khôn lường. Nó thường hãm hại khách qua đường và khách ngủ ở quán trọ trong vùng này. Các vua thời trước cùng bọn nhạc công chết đi đều chôn ở núi Thất Diệu, những u hồn ấy từ lâu không tan lẩn khuất trong khe đá ở hang sâu. Những u hồn ấy có thù với nhà vua nên đêm thanh vắng họp thành từng đàn từng lũ đến xúi dục con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua. Con tinh gà trắng đã dẫn những u hồn ấy đến chân thành dùng phép ma phá đổ tường thành rồi gần sáng lại bay về núi. Con tinh gà trắng có tiền duyên với con gái lão chủ quán gần chân núi nên hay hiện hình làm khách bộ hành ghé vào nhà lão khi thì nhập vào con gái lão khi thì nhập vào con gà trắng của lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ cho tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng của lão chủ quán kia đi.
Nghe lời thần mách bảo, Vua sai mấy viên tướng đem quân vào rừng mai phục rồi vua cải trang cùng thần Kim Quy giả làm khách bộ hành đến quán xin ngủ trọ. Chủ quán từ chối lấy cớ là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách đi đường. Nhưng An Dương Vương và thần Kim Quy nhất định xin ở. Chủ quán phải chiều theo ý hai người.
Ðêm đêm An Dương Vương nghe thấy những bước chân rầm rập ở ngoài. Những bước chân từ khắp các ngả đi lại rộn ràng rồi thốt nhiên có bàn tay rất mạnh đập vào cái phên nhà lão chủ quán tiếp đến tiếng gọi người con gái lão. Thần Kim Quy lên tiếng nạt nộ, tiếng ngoài im ngay. Những tiếng chân bước cũng xa dần.
Gần sáng lại có những tiếng chân rầm rập ở ngoài, thần Kim Quy bảo An Dương Vương mở cửa phên ra gọi quân mai phuc đuổi theo đám yêu tinh đang rút lui về Thất Diệu, quân lính vừa đuổi vừa giương nỏ bắn theo. Cứ một loạt tên bay đi là lại nổi lên những tiếng ma kêu quỷ khóc rùng rợn. Tiếng rên rỉ khóc than mỗi lúc một thưa dần. Ðến khi mặt trời mọc thì yêu khí tan. Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cổ trong các hang núi, họ chất thành từng đống cao đốt đi rồi tro than đổ xuống suối cho tan hẳn oan hồn.
An Dương Vương và thần Kim Quy trở về quán trọ bảo chủ quán hiến cho mình con gà trắng để tạ trời đất. Gà vừa bị cắt tiết thì con gái chủ quán cũng lăn ra chết. Giữa lúc ấy có một con chim tứ trong nhà bay vụt ra, thần Kim Quy biết đó là con yêu tinh đã tìm đường chạy trốn, liền tung phép giết chết.
Yêu ma đã trừ xong, thần Kim Quy lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn. Thần rút một cái móng của mình trao cho An Dương Vương, dặn rằng:
- Nhà vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc thì đem ra bắn, một phát có thể giết được hàng ngìn quân giặc.
Nói xong, thần biến mất, nhờ có thần Kim Quy trừ hết yêu ma. An Dương Vương ra lệnh cho quân lính và nhân dân xây lại thành. Chẳng bao lâu tòa thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng, vừa dầy vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành.
Di tích Thành Cổ Loa và người sáng chế nỏ thần
“Tôi kể ngày xưa nàng Mỵ ChâuTheo truyền thuyết năm 183 trước công nguyên, Triệu Đà xưng là nam Việt Vũ đế, chính thức khẳng định vị thế ngang bằng vua Hán. Triệu Đà từng nhiều lần đem quân sang xâm lược Âu Lạc, nhưng quân của Triệu Đà gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân dân Âu Lạc và liên tục thất bại bởi thứ vũ khí mệnh danh là nỏ thần. Chính vì thế, sau nhiều lần tấn công bằng quân sự đều chuốc lấy đại bại, Triệu Đà quyết ịnh chọn phương pháp giả vờ cầu hòa, thông hiếu và đưa con trai lớn sang cầu hôn với con gái An Dương Vương với mục đích điều tra tình hình phòng ngự, tổ chức quân đội trong thành và lấy cắp bí mật chế tạo, cách sử dụng của nỏ thần - vũ khí đặc biệt của Âu Lạc. Đây là lí do chính dẫn đến sự thất thủ của Thục Phán An Dương Vương và sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc sau khoảng thời gian 30 năm hưng thịnh.
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”
(Tố Hữu)

Đề Thờ An Dươn Vương - Khu di tích Cổ Loa
TỪ XÂY THÀNH….
Cao Lỗ (chưa rõ năm sinh, mất năm 179 trước công nguyên), là một tướng tài của Thục phán An Dương Vương, quê quán xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc ninh. Ông là người khuyên An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô. Về thành Cổ Loa, theo truyền thuyết gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện tại thành gồm có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm vào khoảng 2 km 2. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy dốc thẳng đứng, mặt trong luỹ thoải để ngoài đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Bao quanh mỗi vòng thành đều có hào nước, vòng hào thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Theo các nhà khoa học, thành Cổ Loa là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”. Chính nhờ cấu trúc kiên cố như vậy nên bao nhiêu lần quân của Triệu Đà đánh chiếm Cổ Loa là bấy nhiêu lần đại bại. …
… ĐẾN CHẾ TẠO NỎ THẦN
Những cuộc khai quật ở Cổ Loa, khởi đầu tại di chỉ khảo cổ Cầu Vực, phía nam kinh thành Cổ Loa đã hé lộ nhiều thông tin quý giá về chiếc nỏ thần linh nghiệm (hay còn gọi là nỏ Liên Châu) mà Thục Phán An Dương Vương thường dùng, đánh bại quân thù. Theo sách “Lĩnh nam chích quái”, sau khi giúp An Dương Vương xây Loa thành, rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói “nhờ ơn thần, thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt của mình đưa cho nhà vua và nói “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”.
Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy. Theo truyền thuyết chiếc nỏ này “bắn một phát chết một vạn, bắn ba phát chết ba vạn”. Mặc dù sự tích rùa vàng cho vuốt là chi tiết hư cấu được thần thoại hoá nhưng những cuộc khai quật gần đây đã chứng minh nỏ Liên Châu là hoàn toàn có thật. Cuộc khai quật đầu tiên năm 1959 tại Cầu Vực đã phát lộ một kho mũi tên đồng chưa tra cán, số lượng lên tới hàng vạn chiếc, tổng trọng lượng là 93kg. Số lượng mũi tên trên được chia ra các kiểu dáng khác nhau khá ổn định với trình độ tinh xảo. Đến cuộc khai quật tại Đền Thượng năm 2005, sau tiếp là các cuộc khai quật năm 2006, 2007 thì các nhà khảo cổ còn phát hiện di tích lò đúc mũi tên đồng cùng các khuôn đúc mũi tên 3 cạnh, đưa ra những minh chứng bằng hiện vật và luận cứ khoa học xác đáng về khí tài trang bị của “quân đội quốc gia” Âu Lạc.

Đình thờ Cao Lỗ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên
Theo các nhà nghiên cứu, mũi tên ba cạnh phù hợp với dạng bắn bằng nỏ, là một vũ khí lạnh tầm xa, mang tính đặc thù của cư dân Việt cổ. Từ đây, cây nỏ linh thiêng với uy lực “cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần” (theo “Lĩnh nam chích quái”) đã chứng minh được sự tồn tại của nó trong lịch sử dựng nước của dân tộc ta dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Chiếc nỏ thần cùng sự tích Loa thành không còn là câu chuyện đậm màu truyền thuyết mà đang dần “đi ra từ huyền thoại”.
Đến với Cổ Loa hôm nay, du khách có thể “sờ” thấy hệ thống vũ khí, được xem tận mắt dấu vết của lò đúc, những phần còn lại của khuôn đúc, những mũi tên đồng ba cạnh đặc trưng Cổ Loa đã từng nhiều lần gây kinh hoàng cho quân xâm lược. Nhiều hội thảo khoa học về tướng quân Cao Lỗ cùng di tích Cổ Loa và chiếc nỏ thần đã được tổ chức. Những luận cứ khoa học cùng hiện vật tìm thấy qua những cuộc khai quật đang dần làm sáng tỏ một giai đoạn lịch sử với nghệ thuật quân sự tài tình của người Việt ta.
Với tấm lòng tôn kính của người đời sau dành cho tướng quân Cao Lỗ, nhà sáng chế chiếc nỏ liên châu thần kì, nhiều địa phương trên cả nước đã lập đền thờ tưởng nhớ ông như đình thờ tại phường Bồ Đề, quận Long Biên và tại phường Quảng An quận Tây Hồ, Hà Nội. Một số địa phương khác cũng có đền thờ Cao Lỗ như ở Bắc ninh, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh… Tại kì họp ngày 5 tháng 8 năm 2005, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định lấy tên ông để đặt tên cho một con đường ở trung tâm huyện Đông Anh.
Lan Phương (Hà Nội TV)
Vị trí địa lý của Thành Cổ Loa
Lần thứ nhất Hà Nội (hay nói chính xác hơn là vùng ven Hà Nội) trở thành kinh đô là khi Thục An Dương Vương thống nhất hai tộc Âu Việt và Lạc Việt trở thành vua Việt cổ cho xây dựng Loa thành tạo nên kinh đô Cổ Loa của nước Âu Lạc
Đánh dấu một bước phát triển đáng kể của việc chuyển dịch Trung tâm chính trị người Việt cổ từ trung du về đồng bằng, tạo nên sự lớn mạnh thực sự của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Việt Nam cổ đại.

Cái lần thứ nhất dời đô của Thục Phán không chỉ còn ghi lại trong các truyền thuyết mà còn được chứng minh qua vô vàn dấu tích và các di chỉ khảo cổ học. Song có một giai đoạn khá cường thịnh của Hà Nội xưa ít được nhắc tới gắn liền với tên tuổi của Lý Bí (năm 544) với chiến thắng chói lọi quét sạch quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi, lên ngôi trị vì, tự xưng là Nam Việt đế (hoàng đế Phương Nam) để đối chọi với hoàng đế phương Bắc.
Vị hoàng đế này đã không đóng đô ở quê nhà (Thái Bình) như các vua Hùng hay Bà Trưng với tư tưởng thủ lĩnh địa phương nặng nề mà đã chọn Hà Nội để định đô. Vị hoàng đế này cũng là người đầu tiên đặt quốc hiệu cho nước là Vạn Xuân, và thành Cổ Loa đến thời ông cũng đã được mở mang rộng hơn rất nhiều, trở thành kinh đô của Nam Việt đế – vị vua đầu tiên của thời quân chủ phong kiến Việt Nam.
Những dấu tích xưa còn lại cho ta biết, Lý Nam Đế ngay khi xây dựng kinh đô đã cho dựng một tòa thành ở cửa sông Tô Lịch (năm 545) để ngăn chặn quân xâm lược nhà Lương của Nam triều Trung Quốc. Cũng chính ông chứ không ai khác cho dựng chùa Mở Nước (chùa Khai Quốc, sau là Trấn Quốc bên bờ Hồ Tây) và cháu Lý Nam Đế khi nối ngôi tự xưng là Lý Phật tử – con Phật chứ không phải con trời (Thiên tử) như tư tưởng Trung Hoa cổ.
Bắt đầu từ Ông Vua của nền quân chủ đầu tiên này, Vạn Xuân đã đình hình khá rõ về tư tưởng, tôn giáo và chế độ xã hội. Lý Nam Đế đặt niên hiệu riêng là Đại Đức cho lịch sử thời tiền Lý chính là khẳng định tư tưởng quân chủ Phật giáo mà ông theo đuổi khác hẳn với quân chủ Nho giáo của Trung Hoa.
Lý Nam Đế cũng là vị vua đầu tiên cho đúc tiền đồng Việt Nam (tìm thấy khá nhiều trong các di chỉ khảo cổ) mở đầu cho một nền tài chính tự chủ mà các triều đại sau sẽ tiếp tục phát huy. Lý Phật Tử là người kế tục sự nghiệp dựng nước của Lý Nam Đế tiếp tục trị vì tại Cổ Loa thêm được 30 năm thì bị nhà Tuỳ sau khi thống nhất Trung Quốc đem quân xâm lược – kết thúc gần 100 năm độc lập của đất nước Vạn Xuân.
Như vậy, chính Lý Bí chứ không ai khác là người đầu tiên nhận ra được vị thế ưu việt của mảnh đất Hà Nội và đã đưa nó lên một vị trí lịch sử trở thành kinh đô đầu tiên của nền quân chủ trong suốt gần 100 năm.
Với việc đặt tên nước là Vạn Xuân, đề cao Phật học, dựng chùa, đúc tiền, đặt niên hiệu riêng… chính Lý Bí là người đầu tiên khẳng định sự tự chủ độc lập của nền quân chủ Việt Nam bằng một tư tưởng riêng, một con đường riêng, khác hẳn, thậm chí đối nghịch với Phong kiến Trung Quốc thời đó.
Kể lại câu chuyện xưa đúng vào lúc thành phố sắp lập thêm hai quận mới mà một trong số đó là Vạn Xuân, chính là để thêm một lần nhớ lại vị vua tài giỏi của nước Việt những năm đầu công nguyên đã có công phát hiện ra Hà Nội – một thủ đô tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ – mở đường cho một truyền thống Hà Nội – Thăng Long của các triều đại Lý – Trần – Lê oanh liệt sau này.

